ỦNG HỘ NGƯỜI DÂN BỊ LŨ LỤT Ở MIỀN TRUNG

THƯ NGỎ
ỦNG HỘ NGƯỜI DÂN BỊ LŨ LỤT Ở MIỀN TRUNG

Trong những ngày qua cả nước không khỏi xót xa khi chứng kiến người dân các tỉnh miền Trung đang phải gồng mình chống chọi với lũ lụt. Khúc ruột miền Trung không năm nào không phải hứng chịu những thiệt hại do thiên tai gây ra. Với tinh thần tương thân, tương ái của người Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội (CSRD) thực hiện hoạt động kêu gọi quyên góp, ủng hộ từ những tấm lòng hảo tâm của người dân trong và ngoài nước nhằm chung tay khắc phục hậu quả của lũ lụt với người dân vùng lũ Miền Trung, Việt Nam
– Thời gian ủng hộ: từ ngày 14/10/2020 đến ngày 30/10/2020.
– Địa điểm dự kiến trao quà: các tỉnh Miền Trung, Việt Nam.
– Hình thức ủng hộ: có 02 hình thức
1. Ủng hộ các vật dụng sinh hoạt và lương thực, thực phẩm: địa điểm tiếp nhận cụ thể như sau:
Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội (CSRD)
– Địa chỉ: 2/33 Nguyễn Trường Tộ, thành phố Huế
– Điện thoại: 0234.3837714 – 090.1149380 (Tâm)
– Ủng hộ bằng tiền thông qua giao dịch tài khoản ngân hàng:
2. Ủng hộ bằng tiền xin vui lòng chuyển về:
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Xã hội (CSRD)
– Tên tài khoản: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Xã hội
– Số tài khoản: 0400.9815.2999
– Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín – Sacombank – chi nhánh Huế.
Nội dung giao dịch: ỦNG HỘ NGƯỜI DÂN BỊ LŨ LỤT Ở MIỀN TRUNG
Ban Tổ chức sẽ cập nhật chi tiết từng cá nhân ủng hộ trên trang fanpage:
Lũ lụt Miền Trung: https://www.facebook.com/L%C5%A9-l%E1%BB%A5t-Mi%E1%BB%81n-Trung-170789390043750
Trân trọng cám ơn và mong nhận được sự đồng hành, hợp tác của quý các tấm lòng hảo tâm.

Hỗ trợ 488 suất quà cho người lao động thu gom phế liệu

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Xã hội (CSRD) với sự tài trợ của Liên minh toàn cầu về các biện pháp thay thế đốt rác (GAIA) và Liên minh Không rác Việt Nam (VZWA) đã trao 488 suất quà cho người lao động làm nghề thu gom phế liệu sinh sống trên địa bàn thành phố Huế.

Mỗi suất quà hỗ trợ bao gồm gạo, găng tay, khẩu trang và kẹp gắp rác thải.
Đối tượng mà hoạt động hướng đến là những người lao động thu gom, thu mua phế liệu.

Hoạt động diễn ra từ tháng 6-7/2020 tại 20/27 phường của thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đối tượng hỗ trợ mà hoạt động hướng đến là người lao động thu mua, thu gom, nhặt và đại lý thu gom, thu mua ve chai, phế liệu đang sinh sống và làm việc tại thành phố Huế.

Trao quà cho người lao động tại phường Trường An, thành phố Huế.
Người lao động nhận quà hỗ trợ tại phường An Hòa, thành phố Huế.

Mục đích của hoạt động nhằm nâng cao nhận thức, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, góp phần chung tay trong phòng, chống dịch bệnh đặc biệt là trong tình hình dịch COVID – 19 vẫn đang diễn ra. Các suất hỗ trợ bao gồm gạo, găng tay lao động, khẩu trang và kẹp gắp rác thải phục vụ cho hoạt động thu gom phế liệu của người lao động.

144 suất quà được trao cho người lao động tại phường Hương Sơ, thành phố Huế

Nâng cao nhận thức về Biến đổi khí hậu cho phụ nữ

Nâng cao nhận thức về Biến đổi khí hậu cho phụ nữ

Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội đã tổ chức 03 khóa tập huấn và thực hành nghiên cứu cho 25 phụ nữ tại 03 cộng đồng là cộng đồng thôn A Lua (Tây Giang, Quảng Nam), cộng đồng thôn A Sờ (Đông Giang, Quảng Nam) và cộng đồng xã Đại Hồng (Đại Lộc, Quảng Nam).
Khóa tập huấn nhằm cung cấp cho thông tin, kiến thức liên quan đến Biến đổi khí hậu, thực hành các công cụ lịch sử và dòng thời gian của thiên tai, vẽ sơ đồ rủi ro thiên tai, phân tích những việc đã làm và chưa làm được trong phòng, chống thiên tai và giảm thiểu tác động Biến đổi khí hậu,…Ngoài các kiến thức được cung cấp, việc thực hành các công cụ nghiên cứu giúp chị em phụ nữ hiểu rõ hơn những điểm yếu, điểm hạn chế, công tác chuẩn bị phòng chống trước, trong và sau khi thiên tai xảy ra.
Kết thúc hoạt động tập huấn và thực hành, chị Nguyễn Thị Kim Nhựt (Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Mà Coih – Đông Giang) chia sẻ: “Chúng tôi đã có rất nhiều kiến thức thiết thực thông qua lớp tập huấn, các công cụ nghiên cứu đã giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về Biến đổi khí hậu và các hoạt động ứng phó của địa phương. Các kiến thức này là rất cần thiết, đặc biệt là đối với phụ nữ những người chịu tác động trực tiếp của thiên tai và Biến đổi khí hậu”.

Thực hành các công cụ nghiên cứu với sự hỗ trợ của cán bộ CSRD.
Phụ nữ chủ động tham gia trong hầu hết các hoạt động thu thập thông tin của quá trình nghiên cứu.
Sơ đồ rủi ro thiên tai tại cộng đồng thôn A Xờ (huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam).

Việt Nam là một quốc gia đặc biệt dễ bị tổn thương trước những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Các cộng đồng ngày càng dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu và các tác động tiêu cực ngày càng trầm trọng do sự kết hợp giữa phát triển thủy điện và biến đổi khí hậu. Năm 2019-2020, CSRD thực hiện hoạt động nghiên cứu Biến đổi khí hậu tại 03 cộng đồng ở tỉnh Quảng Nam. Thông qua hoạt động, CSRD mong muốn đưa ra các giải pháp về cách áp dụng kết quả dự án, chuyển đổi kinh nghiệm từ cơ sở, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực của phụ nữ để họ có thể trở thành người thúc đẩy sự phát triển bền vững ở địa phương. Việc thực hiện dự án sẽ nâng cao năng lực, tạo điều kiện cho phụ nữ địa phương có giải pháp bền vững và tại chỗ để xử lý các vấn đề, góp phần xây dựng một cộng đồng chống chịu BĐKH; cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ công về tiếp cận tài chính và sử dụng tài nguyên nước sạch thông qua đối thoại chính sách. Quá trình lập kế hoạch giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ khó thành công nếu không có sự tham gia và đóng góp của phụ nữ.

Chuyến thăm rừng ngập mặn của đoàn làm phim VTV1

Trong chuyên mục tìm hiểu các mô hình phòng chống thiên tai tiêu biểu, đoàn làm phim của Đài Truyền hình Việt Nam (VTV1) đã có chuyến thăm rừng ngập mặn tại thôn Vĩnh Trị, xã Hải Dương, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 22/11/2019.

Ban quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn tham gia cùng đoàn làm phim.

Tại đây, đoàn làm phim đã được lắng nghe người dân chia sẻ về lợi ích của rừng ngập mặn đối với cuộc sống, các hoạt động sinh kế đánh bắt và khai thác thủy sản cũng như lợi ích trong việc phòng chống thiên tai mà rừng ngập mặn đã mang lại; tham gia hoạt động giám sát và bảo vệ rừng, cùng người dân trải nghiệm hoạt động đánh bắt, khai thác thủy sản trên phá Tam Giang, trực tiếp thực hiện những thướt phim chân thực về cuộc sống người dân khu vực đầm phá.

Rừng ngập mặn sau gần 2 năm trồng, có cây đã cao hơn 2m, tán rộng.

3,2ha Bần đã được Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội (CSRD) phối hợp cùng chính quyền và người dân địa phương trồng tại thôn Vĩnh Trị từ hơn 2 năm về trước. Theo đánh giá và chia sẻ của ban quản lý và bảo vệ rừng thì diện tích rừng ngập mặn phát triển khá tốt, tỷ lệ sống đạt gần 80%. Công tác quản lý và bảo vệ rừng chưa ghi nhận bất kỳ trường hợp nào về việc chặt phá cây rừng hay đánh bắt thủy sản trái phép trong khu vực rừng trồng.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và diễn biến cực đoan của các hiện tượng thiên tai, bão lũ hiện nay, việc phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển được xem là giải pháp tối ưu và đang được áp dụng phổ biến tại khu vực ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi tiến hành trồng rừng, phía dự án đã hỗ trợ nguồn kinh phí cho công tác bảo vệ và quản lý rừng trong 06 tháng. Hỗ trợ nguồn vốn vay 30.000.000đ cho vay đối với các hộ gia đình có nhu cầu phát triển kinh tế gia đình, đồng thời tạo cơ chế để các hộ vay vốn tham gia vào việc chăm sóc, bảo vệ rừng ngập mặn, nguồn vốn này được cho vay luân chuyển với lãi suất 4%/ năm. Ngoài ra, chính quyền địa phương cũng ban hành quyết định thành lập Ban quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn, phối hợp cùng người dân thường xuyên theo dõi, giám sát, chăm sóc và bảo vệ rừng.

Hoạt động khai thác thuỷ sản trên Phá Tam Giang.
Niềm vui lao động, khai thác thuỷ sản trên phá của người dân.

Ông Ngô Văn Dũng – thôn Vĩnh Trị, thành viên ban quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn chia sẻ: “Cũng nhờ khu rừng ngập mặn này, tôm cá bây giờ nhiều hơn, ngày xưa là không có như vậy đâu, nguồn lợi thủy sản tăng cải thiện rất nhiều thu nhập cho bà con. Trong mùa mưa bão, khu rừng này cũng che chắn rất nhiều cho các hồ nuôi tôm, bảo vệ phần đê nằm ven phá, giúp hạn chế xói mòn, sạt lở”.
Ông Lê Xuân Hướng – Phó Chủ tịch UBND cho biết: “Đa phần người dân trong xã đều có ý thức bảo vệ diện tích rừng ngập mặn đã được trồng vì họ nhận thấy được giá trị, cũng như lợi ích mà rừng ngập mặn đã mang lại đối với cuộc sống cũng, nguồn lợi sinh kế cũng như công tác PCTT”.
Trong thời gian tới, địa phương có kế hoạch mở rộng diện tích rừng ngập mặn, xây dựng và phát triển du lịch sinh thái, du lịch dựa vào cộng đồng giúp phát triển kinh tế của địa phương, đa dạng hóa các loại hình du lịch trải nghiệm, du lịch phát triển bền vững.

Chia sẻ của ông Ngô Văn Dũng – thôn Vĩnh Trị, xã Hải Dương, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế về lợi ích của rừng ngập mặn đối với đời sống của người dân địa phương.

Chia sẻ kết quả nghiên cứu về dự án Chuỗi giá trị chất thải tái chế tại thành phố Huế

Sáng ngày 15 tháng 10 năm 2019, các bạn sinh viên của trường Đại học RMIT đã có buổi chia sẻ kết quả nghiên cứu về dự án “Khảo sát nghiên cứu chuỗi giá trị chất thải tái chế tại thành phố Huế (Việt Nam) để giảm thiểu ô nhiễm nhựa” với các Sở, ban, ngành và các bên liên quan ở Thừa Thiên Tỉnh Huế.
Mục đích tổng thể của dự án nghiên cứu này là lựa chọn và phân tích chuỗi giá trị của các khu vực không chính thức trong quản lý chất thải có thể tái chế ở thành phố Huế. Theo đó, các chuỗi giá trị của các khu vực sẽ cung cấp thông tin, kiến thức liên quan về việc tạo ra doanh thu tiềm năng và tổn thất trong cả hệ thống quản lý chất thải ở khu vực chính thức và không chính thức.

Cùng thảo luận về kết quả của hoạt động nghiên cứu.

Dự án nghiên cứu nhằm tìm hiểu nhiều thông tin hơn về chuỗi giá trị của chất thải có thể tái chế ở thành phố Huế để CSRD có thể lên kế hoạch can thiệp tốt hơn cho các hệ thống thu gom chất thải, phát huy vai trò của phụ nữ – đối tượng dễ bị tổn thương trong khu vực không chính thức và giảm lượng chất thải được đưa đến bãi chôn lấp.
Giá trị tiềm năng về kinh tế của rác thải có thể tái chế được đưa vào chuỗi dịch vụ và quy trình tái chế vật liệu. Khu vực không chính thức đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa rác thải tái chế còn có giá trị ra khỏi dòng chất thải, chất thải nhựa có giá trị thấp nhưng có thể tái sử dụng và mang lại lợi ích kinh tế. Khu vực quản lý chất thải không chính thức bao gồm các cộng đồng dễ bị tổn thương, chủ yếu là phụ nữ có điều kiện kinh tế thấp, những người làm việc và đóng góp một phần tài chính quan trọng cho gia đình. Hoạt động của khu vực này phụ thuộc chủ yếu vào doanh thu được tạo ra từ các hoạt động độc lập và phát triển kinh doanh thông qua thị trường tự do. Việc phát huy vai trò của khu vực không chính thức sẽ làm gia tăng giá trị vật chất. Điều này có khả năng giảm thiểu khối lượng chất thải được kết thúc dưới rác thải không thể tái sử dụng, gây ô nhiễm cho môi trường.

Các đại biểu tham dự buổi chia sẻ kết quả nghiên cứu.

Các hộ gia đình đóng vai trò đáng kể trong hệ thống chất thải có thể tái chế với giá trị đóng góp là 26,6%. Vai trò của các hộ gia đình có thể được nâng cao hơn thông qua các chương trình giáo dục cộng đồng, khuyến nghị tập trung nâng cao nhận thức cho phụ nữ trong việc phân loại rác tại nguồn. Điều này đảm bảo rằng chất thải có thể tái chế của hộ gia đình được quản lý phù hợp và làm tăng giá trị trong chuỗi giá trị rác tái chế.

Tập huấn du lịch cộng đồng cho các nhóm phụ nữ

Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội 9CSRD) đã tiến hành các khóa tập huấn về chủ đề du lịch cộng đồng cho các nhóm phụ nữ xã Hải Dương, xã Quảng Lợi và xã Lộc Vĩnh – khu vực ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế.
Mục tiêu của các khóa tập huấn nhằm xây dựng năng lực cho nhóm phụ nữ ở 3 cộng đồng vùng ven biển, đầm phá trong hoạt động phát triển du lịch dựa trên hệ sinh thái và rừng ngập mặn.

Nhóm phụ nữ xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền.

Nội dung của khóa tập huấn chú trọng đến các vấn đề về thiên tai, biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh TT Huế và các biện pháp ứng phó; vai trò của hệ sinh thái và rừng ngập mặn; ý nghĩa của việc thích ứng dựa trên hệ sinh thái; phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng: phương pháp và các nguyên tắc; phát huy vai trò của phụ nữ trong phục hồi hệ sinh thái và sinh kế.

Các thành viên cùng nhau thảo luận kế hoạch thực hiện hoạt động du lịch tại cộng đồng.
Nhóm phụ nữ xã Hải Dương, thị xã Hương Trà.

Các thành viên của mỗi cộng đồng sẽ phát triển các ý tưởng thực hiện chương trình du lịch cộng đồng – du lịch sinh thái của địa phương mình thông qua phần thảo luận nhóm. Các nhóm dựa trên những nét đặc trưng và ưu điểm của địa phương mình để xây dựng kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng phù hợp, đồng thời xác định các kỹ năng cần được trang bị để có kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao nhằm thực hiện tốt các hoạt động phục vụ khách du lịch trong quá trình triển khai. Ngoài ra các các học viên còn được cung cấp các kiến thức liên quan đến truyền thông, quảng bá hình ảnh, sản phẩm du lịch qua các mạng xã hội.

Trình bày ý tưởng sau thảo luận.

Du lịch cộng đồng đang là hướng đi mới và là hướng phát triển bền vững cho các cộng đồng khu vực đầm phá Tam Giang, việc nâng cao kiến thức, kỹ năng cho các cộng đồng nơi đây đặc biệt là phụ nữ là một việc làm cần thiết để hoạt động đạt được những giá trị và kết quả cao hơn.
Hoạt động nằm trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với lũ lụt ở khu vực đô thị và ven biển tình Thừa Thiên Huế” do Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội thực hiện.

Bàn giao 10 máy đo nồng độ pH cho cộng đồng.

Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội (CSRD) phối hợp cùng Chi cục Thủy sản tỉnh Đak Lak đã tiến hành bàn giao và hướng dẫn sử dụng máy đo nồng độ pH trong nước cho các nhóm nuôi trồng và phát triển thủy sản (PTTS) trong khuôn khổ dự án “Quản trị tài nguyên Nước”.

Ông Phan Văn Tiệp – Chi cục Thủy sán Đak Lak đang hướng dẫn thành viên nhóm thủy sản sử dụng máy đo pH.

Theo đó 10 máy đo pH đã được chuyển đến 05 nhóm cộng đồng là Chi hội nghề cá EaSup, nhóm PTTS EaWer, nhóm PTTS Tân Phú, nhóm PTTS Yang Tao, nhóm PTTS EaTung, mỗi nhóm cộng đồng sẽ nhận 02 máy.

Đo thử nghiệm máy pH tại lồng nuôi cá.

Thiết bị đo pH trong ao nuôi sẽ giúp các nhóm cộng đồng quản lý chất lượng nguồn nước, đảm bảo sự phát triển tốt của thủy sản trong ao nuôi, hạn chế các rủi ro liên quan đến nguồn nước trong quá trình nuôi trồng và phát triển nguồn lợi thủy sản.

Lồng nuôi cá trong hồ Ea Súp Hạ của nhóm PTTS Ea Súp, thị trấn Ea Súp, huyện Ea Súp.

Các mô hình sinh kế cộng đồng gắn liền với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản do CSRD hỗ trợ bước đầu đã mang lại hiệu quả nhất định về mặt kinh tế cho các hộ nuôi tham gia, giá thành và đầu ra đều rất ổn định. Bên cạnh các giá trị về mặt kinh tế, mục tiêu và lợi ích hoạt động chính của nhóm khi tham gia dự án là bảo đảm phát triển các hoạt động sinh kế, phát triển nguồn lợi thủy sản bền vững, khai thác và quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên nước ở khu vực sông Srêpốk. Trong thời gian tới, các nhóm đang có dự định phát triển và mở rộng quy mô của lồng nuôi; thành lập và kết nối các hợp tác xã hoạt động về thủy sản; xây dựng mô hình du lịch tham quan cộng đồng với các điểm nhấn là hồ nuôi cá lồng, vườn tiêu, vườn cam quýt với phương thức canh tác hữu cơ…

Thúc đẩy đồng quản lý nguồn lợi thủy sản trên lưu vực sông Sêrêpôk: Bài học từ một số mô hình thí điểm

Sêrêpôk là một phụ lưu quan trọng của sông Mê Công. Sông bắt nguồn từ Vườn quốc gia Chư Yang Sin của tỉnh Đắk Lắk và chảy qua hai tỉnh Ratanakiri và Stung Treng của Campuchia trước khi nhập vào Mê Công, tổng chiều dài của sông là 371 km. Tại Việt Nam, Sêrêpôk được hợp thành từ hai dòng sông là Krông Ana (sông Mẹ) và Krông Knô (sông Bố). Ngoài hệ thống sông này, ở Tây Nguyên, còn có một lưu vực quan trọng khác, cũng là phụ lưu của Mê Công và cùng chảy sang Campuchia trước khi hòa vào dòng sông Mẹ, đó là lưu vực sông Sê San.
Mặc dù có nhiều lợi thế và giá trị đa dạng sinh học, song cảnh quan các lưu vực sông Sêrêpôk và Sê San thuộc khu vực Tây Nguyên đang bị thay đổi mạnh do quá trình đầu tư, phát triển các thủy điện, khai mỏ, trồng cây công nghiệp và các hoạt động sử dụng đất mang tính thương mại khác. Nơi đây tuy có một mạng lưới sông, suối dày đặc nhưng lại không có những cộng đồng sống hoàn toàn độc lập bằng nghề cá. Phần lớn các hoạt động đánh bắt vẫn nhỏ lẻ, không thường xuyên và chỉ nhằm cung cấp nguồn thực phẩm trong phạm vi địa phương. Đáng chú ý là với hệ thống thủy điện dày đặc trên lưu vực như hiện nay thì sự đa dạng các loài cá đã và sẽ bị thay đổi hoặc biến mất. Do đó, rất cần một cơ chế, một mạng lưới quản trị hiệu quả nguồn tài nguyên thủy sản dồi dào này nhằm vừa duy trì và phát triển sinh kế bền vững cho người dân, vừa giúp bảo tồn, bảo vệ các giá trị tự nhiên, đa dạng sinh học của các lưu vực sông cũng như cảnh quan khu vực.
Trong bối cảnh ấy, Dự án “Quản trị Tài nguyên nước” đã được ra đời và lựa chọn khu vực Tây Nguyên làm địa bàn trọng điểm, cụ thể là hai tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, thời gian thực hiện từ 2016 – 2019. Dự án chia làm hai hợp phần, tương ứng với hai địa phương, trong đó, hợp phần về quản trị tài nguyên rừng được triển khai tại xã Đắk Roong, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai, do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNture) phối hợp cùng Trung tâm Bảo tồn Đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) thực hiện; hợp phần về quản trị tài nguyên nước do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Xã hội (CSRD) triển khai tại 4 huyện thuộc tỉnh Đắk Lắk gồm huyện Krông Ana, Buôn Đôn, Ea Sup và Lắk. Mục tiêu của dự án nhằm tạo điều kiện cho các cộng đồng địa phương tham gia vào bảo tồn và phục hồi rừng ở khu hành lang giữa Vườn quốc gia Kon Ka Kinh và Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Cha Răng tại tỉnh Gia Lai, đồng thời thúc đẩy sự tham gia có ý nghĩa thông qua một mạng lưới quản trị của các cộng đồng ở lưu vực sông Sêrêpôk trên các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Kon Tum.
Đối với hợp phần thứ hai, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Xã hội (CSRD) đã thực hiện 05 hoạt động chính bao gồm: (i) Thu thập thông tin và xác các cộng đồng liên quan ở lưu vực sông Serepok để tham gia hoạt động dự án; (iii) Nâng cao năng lực cho các cộng đồng địa phương, chú trọng các nhóm phụ nữ và thanh niên trong quản trị lưu vực sông; (iii) Xây dựng mạng lưới học hỏi giữa các cộng đồng này và các bên liên quan khác để chia sẻ các bài học về quản trị tài nguyên thiên nhiên trong lưu vực sông; (iv) Hỗ trợ những biện pháp đánh bắt cá bền vững và các sáng kiến sinh kế bền vững kết hợp với bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên ở Hồ Lắk và các khu vực ven sông khác thông qua các quỹ cộng đồng nhỏ; (v) Tổ chức các cuộc đối thoại giữa các bên liên quan về vai trò của cộng đồng, phụ nữ, thanh niên và các hoạt động sinh kế bền vững trong bối cảnh quản trị lưu vực sông ở cấp xã và cấp huyện.
Hiệu quả từ các mô hình
Từ năm 2016 –  2019, CSRD đã hỗ trợ xây dựng, phục hồi 07 mô hình sinh kế cộng đồng tại các cộng đồng thôn Tân Phú và thôn Na Wer (huyện Buôn Đôn), thôn Ea Tung (huyện Krông Ana), xã Yang Tao (huyện Lắk) và Thị trấn Ea Sup (huyện Ea Sup).
Mô hình nuôi cá ao của các nhóm cộng đồng ở thôn Nawer, xã Eawer, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk
Nhóm Nawer được thành lập mới dựa trên chi hội nghề cá cũ (2009) với số lượng 13 thành viên bao gồm 12 nam, 01 nữ. Từ số tiền hỗ trợ ban đầu của dự án là 20 triệu đồng, nhóm đã được củng cố và thành lập, trong đó, nhóm ưu tiên cho thành viên là hộ nghèo hoặc có kinh tế khó khăn hơn hoặc những hộ đã có nhiều kinh nghiệm và thành công trong việc nuôi cá nước ngọt vay vốn trước để nuôi cá tại ao của gia đình. Sẽ có 2 hộ được vay trong năm đầu tiên, sau đó hàng năm sẽ luân chuyển vòng vốn cho các hộ khác dựa theo tiêu chí của nhóm đưa ra. Lãi suất được tính là 0,1% và dùng để chi trả cho các cuộc họp nhóm hoặc tăng cường thêm cá giống. Các loài cá được nuôi chủ yếu là cá trắm, trôi, mè và rô phi đơn tính.

Mô hình ở thôn Nawer, xã Eawer, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk (Ảnh: PanNature)

Ngoài ích lợi vay vốn và gắn kết tổ, nhóm, các thành viên khi tham gia vào nhóm cũng nâng cao ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản hơn, hạn chế những hoạt động đánh bắt trái phép trên sông nhằm bảo tồn nguồn cá tự nhiên của lưu vực Sêrêpôk. Đáng chú ý là sau khi thành lập, các hộ thành viên xây dựng được lịch trình, kế hoạch nuôi rõ ràng, có thể tham khảo và học hỏi kinh nghiệm từ các thành viên khác để nuôi cá đạt năng suất, sản lượng tốt nhất. Đối với một số hộ vốn đã nuôi cá từ trước khi tham gia dự án nên họ có sẵn các điều kiện để phát triển mô hình nuôi cá, đa dạng loài và có kinh nghiệm để có thể chia sẻ cho các thành viên khác.
Bên cạnh một số kết quả đạt được, mô hình cũng gặp một số khó khăn, tồn tại như thời tiết ngày càng khô hạn, nhất là mùa khô cần phải bơm nhiều nước từ sông vào để đảm bảo môi trường sống cho cá; các hộ thành viên trước đây nuôi trồng nhỏ lẻ nên còn thiếu kinh nghiệm, năng suất thấp và vẫn chưa ý thức được nhiều về lợi ích của hoạt động nhóm; các hồ chưa mạnh dạn đầu tư và tham gia các hoạt động chung của nhóm.
Mô hình nuôi cá lồng trên sông của nhóm Thiên Phú ở thôn Tân Phú, xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk
Nhóm Thiên Phú gồm 15 thành viên, trong đó có 11 nam và 4 nữ. Nhóm đã tận dụng mặt nước sông Sêrêpôk để phát triển mô hình nuôi cá lồng. Từ nguồn kinh phí hỗ trợ của dự án, Nhóm đã góp đối ứng thêm 45 triệu đồng để cho 7 hộ vay làm vốn sản xuất và dùng để nuôi cá lồng chung của cả nhóm. Sau khi thành lập, nhóm đã gửi thêm đề xuất xin ngân sách từ phía huyện và được hỗ trợ thêm 60 triệu đồng. Để duy trì các hoạt động có hiệu quả, nhóm xây dựng quy chế, cơ chế tài chính rõ ràng và tiến hành họp định kỳ mỗi tháng/lần để cập nhật tình hình cũng như tìm các giải pháp khắc phục nếu gặp sự cố.

Mô hình nuôi cá trong lòng hồ thủy điện của nhóm cộng đồng thôn Tân Phú (Ảnh: CSRD)

Anh Mạc Văn Thanh, thành viên Nhóm thủy sản Thiên Phú cho biết Tổ hoạt động với 15 thành viên đến từ các hộ gia đình khác nhau trong thôn, mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá trên hồ thủy điện Sêrêpôk 3. Tham gia nhóm, các hộ được hỗ trợ nuôi cá tập trung thành một lồng lớn có diện tích 360 m2, thả nuôi các loại cá lóc, cá rô phi, cá trắm… Ngoài ra, các thành viên được tham gia nhiều khóa tập huấn về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, cách xử lý dịch bệnh, vệ sinh lồng nên hạn chế được các khó khăn và tổn thất, đồng thời chuyển đổi nuôi các loài cá phù hợp và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trong quá trình nuôi, các thành viên cùng nhau phân công chăm sóc và canh giữ lồng nuôi, chấp hành quy định về sử dụng thức ăn sạch, không dùng chất cấm, bước đầu mô hình mang lại hiệu quả nhất định về mặt kinh tế cho các hộ tham gia, giá thành và đầu ra đều ổn định. Không chỉ đạt được hiệu quả về kinh tế, Nhóm còn giúp các thành viên nâng cao nhận thức về phát triển nguồn lợi thủy sản bền vững, đồng thời khai thác và quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên nước ở khu vực sông Sêrêpôk. Các thành viên đang tích cực tìm kiếm các nguồn đầu tư từ phía chính quyền và các doanh nghiệp để có thể khai thác tốt hơn tiềm năng của địa phương. Mặt khác, Nhóm cũng khuyến khích sự tham gia của các hộ khác nhằm giảm tải được việc đánh bắt trái phép và hủy diệt trên sông Sêrêpôk.
Mô hình du lịch sinh thái Tân Phú, xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

Mô hình du lịch sinh thái Tân Phú, xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk (Ảnh: PanNature)

Nhóm Tân Phú là sự mở rộng của Nhóm Thiên phú (nuôi cá trong lòng hồ thủy điện Serepok 3) với các hộ sinh sống ven hồ Sêrêpok. Hiện các hộ đang phát triển mô hình trồng cam quýt, tiêu, cà phê sạch ven hồ để thúc đẩy du lịch sinh thái tại địa phương, cụ thể Nhóm sẽ xây dựng mô hình du lịch tham quan cộng đồng với điểm nhấn là hồ nuôi cá lồng, vườn tiêu, vườn cam quýt với phương thức canh tác hữu cơ. Hiện Tân Phú đang tiến hành các thủ tục cần thiết để thành lập hợp tác xã vừa hoạt động về thủy sản, vừa phát triển du lịch sinh thái nhằm nâng cao sinh kế cho các hộ dân, đồng thời tích cực bảo vệ môi trường nước trong lòng hồ.
Mô hình nuôi cá của nhóm Ea Tung, xã Ea Na, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk
Nhóm được thành lập với 16 thành viên, gồm 12 nữ và 4 nam. Đây là nhóm có tỷ lệ phụ nữ nhiều nhất trong số các nhóm. Đặc biệt, ngoài kinh phí hỗ trợ của dự án, nhóm góp đối ứng thêm 36 triệu đồng để phát triển mô hình nuôi cá nước ngọt tại 2 hồ của hai hộ trong nhóm. Việc này thúc đẩy tích cực tính tương tác giữa các thành viên, đồng thời thể hiện tinh thần, ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân khi tham gia vào Nhóm. Nhóm tổ chức họp định kỳ mỗi tháng/lần để trao đổi các vấn đề trong việc nuôi cá như: xử lý ao hồ, nguồn nước sông vào hồ…, đồng thời xây dựng được quy chế và cơ chế tài chính rất rõ ràng, đảm bảo được quyền lợi cho mỗi thành viên. Mô hình được nhiều hộ và chị em phụ nữ ở các địa bàn lân cận đến tham quan, học hỏi.

Vệ sinh ao nuôi cho đợt thả cá tiếp theo của nhóm Ea Tung (Ảnh: CSRD)

Sau hơn 3 năm thực hiện, các thành viên đều được tập huấn và áp dụng kỹ thuật vào chăm sóc từ khâu xử lý ao nuôi đến chăm sóc, chế biến thức ăn, cho cá ăn sao cho đúng cách… nên hạn chế tối đa dịch bệnh, đồng thời đảm bảo chất lượng cá nuôi và nâng cao thu nhập cho các thành viên. Mặt khác, việc thành lập nhóm đã đem lại nhiều lợi ích như tạo việc làm cho chị em phụ nữ, không phải đi làm ăn xa; có cơ hội chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau; tinh thần làm việc nhóm tăng lên; ý thức bảo vệ nguồn nước và bảo vệ môi trường được nâng cao, các hộ không vứt rác bừa bãi như trước đây. Đặc biệt, mô hình giúp chị em tự tin hơn, đoàn kết hơn, hào hứng thực hiện các mô hình mới như nuôi bò, ủ phân…
Theo ông Nguyễn Hữu Thái, chủ hộ nuôi cá của nhóm, khi nuôi tập trung theo nhóm hộ là mọi hoạt động liên quan đến việc nuôi cá đều phải được các thành viên thống nhất. Hiện nay, cùng với chăm sóc ao cá chung rộng 3.000 m2, các hộ còn truyền đạt kinh nghiệm mở rộng diện tích nuôi cá tại gia đình kết hợp với nuôi heo lai rừng và sản xuất nông nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Những kết quả bước đầu của mô hình nuôi cá nước ngọt tập trung theo nhóm hộ thôn Ea Tung, xã Ea Na đang là một trong những hướng phát triển kinh tế mới, vừa đem lại hiệu quả thiết thực, vừa giúp các hộ dân gắn bó giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững tại địa phương.
Mô hình khoanh vùng mặt nước ở hồ Lắk, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Huyện Lắk có nguồn nước mặt khá dồi dào với các hồ chứa như hồ Lắk, hồ Buôn Triết, hồ Buôn Trí A, Buôn Tua Srah… cùng mạng lưới sông ngòi dày đặc thuộc lưu vực sông Krông Ana và Krông Nô – hai con sông lớn trong hệ thống sông Sêrêpốk. Đặc biệt, ở đây có hồ Lắk với diện tích khoảng 62 km2, là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất tỉnh Đắk Lắk và lớn thứ hai của Việt Nam. Ngoài ra, địa phương còn có các suối nội địa bắt nguồn từ dãy Chư Yang Sin như suối Đắk Phơi, Đắk Liêng, Đắk Pắk, Đắk Mây… Hệ thống hồ, sông, suối dày đặc được bao bọc bởi địa hình đồi núi đã tạo nên lưu vực rộng lớn, đặc biệt là những cánh đồng trũng có nước quanh năm, rất thuận lợi cho phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn. Những năm gần đây, do sự gia tăng cường độ khai thác và sử dụng ngư cụ mang tính hủy diệt tràn lan nên sản lượng khai thác suy giảm nghiêm trọng. Mặt khác, hồ Lắk có nhiều quy hoạch chồng chéo nên ảnh hưởng đến nghề khai thác thủy sản cũng như quản lý, bảo vệ đa dạng sinh học của hồ. Thực trạng này cho thấy việc phân vùng sử dụng mặt nước hồ Lắk là nhiệm vụ quan trọng, giúp thúc đẩy đồng quản lý nguồn lợi thủy sản trên lòng hồ.
Trước tiên, CSRD hỗ trợ phục hồi Chi hội nghề cá Liên Sơn thuộc thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk, đồng thời thành lập Nhóm thủy sản buôn Phôốc, xã Yang Tao, huyện Lắk. Trong đó, đối với chi hội Liên Sơn, Trung tâm hỗ trợ địa phương tiến hành quy hoạch, phân vùng mặt nước trên hồ Lắk tiến tới cấp quyền cho các hội/nhóm trên vùng đã được quy hoạch, phân vùng. Đối với nhóm thủy sản ở Yang Tao, CSRD hỗ trợ tiền mua cá giống cho các hộ nuôi thả tại nhà, đồng thời tập huấn kỹ thuật nuôi. Nhóm gồm 6 hộ người đồng bào M’Nông, sinh sống chủ yếu từ nghề đánh bắt, khai thác nhỏ lẻ trên hồ Lắk. Việc vận động họ tham gia mô hình nhằm hướng đến nguồn sinh kế bền vững, ổn định hơn. 

Tập huấn kỹ thuật nuôi cá cho các hộ dân ở Buôn Phoốc, xã Yang Tao, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk (Ảnh: CSRD)

Mô hình chi hội nghề cá Ea Sup, huyện Ea Sup, tỉnh Đắk Lắk

Hồ Ea Sup (Ảnh: PanNature)

Chi hội Ea Sup được thành lập cách đây gần 10 năm, hiện vẫn hoạt động dựa trên nỗ lực của một số thành viên nòng cốt. Tuy nhiên, hiện CSRD đang hỗ trợ Nhóm thành lập nhóm nuôi cá lồng trên lòng hồ Ea Sup, đồng thời hỗ trợ rà soát các văn bản pháp lý nhằm thúc đẩy công nhận và trao quyền đồng quản lý nguồn lợi thủy sản cho nhóm cộng đồng.

Thả 15.000 con cá lăng đuôi đỏ giống của nhóm Ea Súp, huyện Ea Sup, tỉnh Đắk Lắk (Ảnh: CSRD)

Bài học và khuyến nghị

Dự án “Quản trị nguồn tài nguyên nước” đã thực hiện theo phương thức tiếp cận mô hình đồng quản lý, huy động sự tham gia của cả người dân và chính quyền địa phương nhằm nâng cao năng lực sản xuất gắn với thị trường và bảo vệ được nguồn tài nguyên thủy sản phong phú của địa phương. Một số mô hình sáng tạo và hiệu quả, mang lại thu nhập ổn định đồng thời bảo vệ nguồn lợi thủy sản cũng như đa dạng sinh học ở lưu vực sông Sêrêpôk đối với các nhóm cộng đồng, đăc biệt là đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Lắk. Việc triển khai đồng bộ nhiều hoạt động khác nhau như: hỗ trợ thành lập, phục hồi nhóm/chi hội nghề cá; hỗ trợ tập huấn kỹ thuật và tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các thành viên và đối tác; hỗ trợ cá giống, vật tư, biển bảng; tổ chức đối thoại vận động chính sách… đã mang lại kết quả tích cực đến các thành viên, đặc biệt là các thành viên nữ; các nhóm cộng đồng đã có ý thức phát triển sinh kế và bảo vệ môi trường tốt hơn, hạn chế các phương thức và phương tiện đánh bắt mang tính hủy diệt, chuẩn bị tiền đề tốt cho quá trình thực hiện đồng quản lý nguồn lợi thủy sản về sau.
Theo đánh giá của đại diện Chi cục thủy sản tỉnh Đắk Lắk, các mô hình do CSRD hỗ trợ đều khá hiệu quả vì đã giúp được các nhóm cộng đồng ở các huyện nâng cao năng lực làm kinh tế, tiếp cận thị trường và đặc biệt là giảm nghèo, hướng tới đánh bắt bền vững, thân thiện với môi trường, bảo tồn nguồn lợi thủy sản, phù hợp với chiến lược phát triển của việc đẩy mạnh phát triển ngành của thủy sản của tỉnh, tạo việc làm và ổn định kinh tế cho nhiều hộ gia đình.
Đáng chú ý là các thành viên của các nhóm mô hình nuôi ttrồng thủy sản ở hai huyện Buôn Đôn và Krông Ana cho hay ngay cả khi dự án kết thúc, họ vẫn duy trì sinh hoạt nhóm, vẫn tiếp tục nuôi cá và nhân rộng mô hình, có thể là mở rộng quy mô ở một số thôn, xã lân cận. Các thành viên cũng sẽ tiếp tục đóng góp vào quỹ nhóm để quay vòng vốn cho các hộ thành viên vay hoặc mở rộng quy mô nuôi cá của nhóm.
Hiện các cộng đồng sống dọc lưu vực sông Sêrêpôk có nguồn thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, do đó, việc thúc đẩy mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản là rất cần thiết, vừa giúp cải thiện kinh tế cho người dân, vừa bảo tồn được các loài thủy sản và đa dạng sinh học của vùng. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả đồng quản lý, cần sự vào cuộc của các các cấp chính quyền, tổ chức địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia và người dân. Các địa phương có thể cân nhắc áp dụng các mô hình của dự án, đồng thời duy trì, phát triển nhiều hơn nữa các nhóm/chi hội nghề cá tại địa phương với các nội dung thích hợp như hỗ trợ tập huấn kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, phổ biến các chính sách và luật thủy sản của nhà nước, tập huấn tiếp cận thị trường, tìm đầu ra lâu dài cho sản phẩm, kết nối doanh nghiệp…, tạo động lực cho người dân phát triển sinh kế và ổn định cuộc sống.

Nguồn: PanNature

Khảo sát nghiên cứu chuỗi giá trị chất thải tái chế tại thành phố Huế (Việt Nam) để giảm thiểu ô nhiễm nhựa

Năm 2018, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Xã hội (CSRD), một tổ chức phi lợi nhuận tại Việt Nam, đã thực hiện dự án “Chương trình tái chế rác thải nhằm giảm thiểu ô nhiễm chất thải nhựa ở tỉnh Thừa Thiên Huế” với mục tiêu chung là giảm thiểu và tái chế rác thải nhựa tại khu vực thành phố Huế.
Dự án nhằm mục đích thúc đẩy và thực hành phương pháp 3Rs (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) bằng cách giới thiệu hệ thống phân loại rác thải tại các trường học được chọn tại địa phương, thông qua sự tham gia của cộng đồng và thông qua các phương tiện truyền thông nhằm hướng đến mục tiêu giảm thiểu 5% lượng rác thải nhựa.

Sinh viên thảo luận với CSRD về kế hoạch dự án chi tiết.

Sau gần một năm, dự án đã thực hiện một loạt các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức và thiết lập hệ thống phân loại rác thải tại 06 trường học và bước đầu đã dạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, CSRD muốn đi sâu hơn để hiểu về cách hoạt động của hệ thống thu gom rác thải không chính thức và chuỗi giá trị của loại chất thải này. CSRD muốn thu hút sinh viên RMIT trong một nghiên cứu như vậy.

Sinh viên sẽ thực hiện một dự án nghiên cứu về chuỗi giá trị chất thải tái chế tại thành phố Huế, Việt Nam.

Dự án nhằm mục đích tìm hiểu về chuỗi giá trị chất thải có thể tái chế ở thành phố Huế, nhờ đó CSRD có thể lên kế hoạch thực hiện tốt hơn cho hệ thống thu gom chất thải và giảm thiểu khối lượng chất thải vào bãi rác.

Ông Quảng (Tổ chức IDE) đã học Thạc sĩ tại Mỹ và có kinh nghiệm chuyên sâu về Chuỗi giá trị.

Sinh viên sẽ thực hiện một dự án nghiên cứu về chuỗi giá trị chất thải tái chế tại thành phố Huế – Việt Nam, tiến hành thảo luận với các giám sát viên của trường học và CSRD về kế hoạch dự án chi tiết.

Chia sẻ kinh nghiệm, thách thức và triển vọng về bảo tồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Tây Nguyên – Việt Nam

Ngày 25/7/2019 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Gia Lai phối hợp cùng Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Pan Nature), Trung tâm Bảo tồn Đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (Green Việt) và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội (CSRD) tổ chức hội thảo Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ở Tây Nguyên: Kinh nghiệm thực tiễn, thách thức và triển vọng cho tương lai tại thành phố PleiKu, tinh Gia Lai.

Toàn cảnh hội thảo ngày 25/7/2019.

Hội thảo với sự tham dự của gần 70 đại diện đến từ chính quyền các địa phương, các cơ quan, ban ngành liên quan, các tổ chức xã hội, chủ rừng, các nhà khoa học, các dự án phát triển và đại diện cộng đồng của 02 tỉnh là Gia Lai và Đak Lak. Hoạt động của dự án có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý và các tổ chức xã hội cũng như cộng đồng của 2 tỉnh. Mục tiêu của hội thảo lần này nhằm chia sẻ các kết quả, bài học từ các mô hình thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Tây Nguyên, đặc biệt là hai tỉnh Đak Lak và Gia Lai; tạo diễn đàn cho cộng đồng, các tổ chức xã hội và các cơ quan quản lý chia sẻ những ý tưởng và kiến nghị về thực hành và chính sách cho các tỉnh Tây Nguyên nhằm quản trị tốt tài nguyên thiên nhiên ở khu vực này.

Phó GS.TS Nguyễn Danh – Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Gia Lai phát biểu khai mạc hội thảo.

Khu vực Tây Nguyên là địa phương có tính đa dạng sinh học cao, hiện còn lưu trữ nhiều giá trị về sinh thái và văn hóa. Tuy nhiên, nơi đây hiện đang phải chịu những sức ép ngày càng gia tăng từ quá trình phát triển kinh tế, xã hội cũng như mức độ gia tăng dân số địa phương và quá trình di cư, bên cạnh đó còn có những thách thức về suy thoái môi trường, tài nguyên thiên nhiên và Biến đối khí hậu gây ra những tác động đáng kể. Những thách thức về môi trường của Tây Nguyên đã được nhận diện và tìm hướng giải quyết thông qua các chương trình, dự án đầu tư của Nhà nước cũng như các tổ chức trong và ngoài nước.

Bà Phạm Thị Diệu My – Giám đốc CSRD trình bày hợp phần thực hiện dự án về quản trị tài nguyên nước tại tỉnh Đak Lak.

Từ năm 2017 đến nay, Dự án Quản trị Tài nguyên nước do tổ chức Oxfam tài trợ được thực hiện bởi 03 đơn vị là Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Pan Nature), Trung tâm Bảo tồn Đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (Green Việt) và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội (CSRD) thực hiện tại Gia Lai và Đak Lak. Tại Gia Lai dự án hướng tới xây dựng cơ chế phối hợp quản lý rừng với sự tham gia của người dân ở khu vực hành lang nối giữa Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh và khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng. Trong khi đó, tại tỉnh Đak Lak dự án đã tăng cường năng lực và sự tham gia cho các chi hội nghề cá trong lưu vực sông Sre Pok, thiết lập mô hình đồng quản lý sử dụng mặt nước tại hồ Lak.
Mặc dù còn nhiều thách thức và hạn chế, một số mô hình bảo vệ tài nguyên thiên nhiên có sự tham gia của cộng đồng bước đầu đã chứng minh được hiệu quả, góp phần vào công tác giữ gìn các hệ sinh thái rừng, nguồn nước và đa dạng sinh học.